Chi tiết tin

A+ | A | A-

Nâng cao năng lực số của cán bộ để chính quyền gần dân hơn

Người đăng: Ban xây dựng Đảng Ngày đăng: 6:14 | 21/08/2026 Lượt xem: 274

Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp người dân tiếp cận chính quyền thuận lợi hơn, thủ tục được giải quyết nhanh hơn và những kiến nghị chính đáng được tiếp nhận, xử lý kịp thời. Để đạt được điều đó, năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở cấp xã, giữ vai trò trực tiếp và có ý nghĩa quyết định.

Cán bộ xã Phú Ninh được phân công hỗ trợ Nhân dân trong chuyển đổi số

Năng lực số gắn với trách nhiệm phục vụ Nhân dân

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện phương thức quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đây không chỉ là yêu cầu ứng dụng công nghệ mà còn đặt ra nhiệm vụ đổi mới tư duy, phương pháp lãnh đạo, quản lý và thực thi công vụ.

Trong tiến trình đó, cấp xã là nơi gần dân nhất, trực tiếp tiếp nhận và giải quyết nhiều thủ tục hành chính thiết yếu của người dân. Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người vận hành các nền tảng số, vừa hướng dẫn người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, khai thác thông tin, phản ánh kiến nghị và thực hiện quyền, nghĩa vụ trên môi trường số. Vì vậy, năng lực số của cán bộ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở.

Năng lực số không đơn thuần là biết sử dụng máy tính, phần mềm quản lý văn bản hoặc tiếp nhận hồ sơ trực tuyến. Đó là khả năng sử dụng công nghệ đúng mục đích, khai thác dữ liệu có hiệu quả, bảo đảm an toàn thông tin, kiểm chứng nguồn tin và hỗ trợ người dân giải quyết công việc thuận lợi. Năng lực ấy còn bao hàm thái độ trách nhiệm, tinh thần học hỏi và ý thức phục vụ Nhân dân.

Thực tế cho thấy, nếu cán bộ thành thạo công nghệ, một hồ sơ có thể được tiếp nhận, kiểm tra, luân chuyển và trả kết quả nhanh chóng; người dân có thể theo dõi tiến độ mà không phải đi lại nhiều lần. Ngược lại, nếu cán bộ chưa làm chủ nền tảng số, chuyển đổi số có thể chỉ dừng lại ở việc chuyển thao tác thủ công lên máy tính. Người dân khai báo trực tuyến nhưng vẫn phải bổ sung hồ sơ giấy; dữ liệu đã được cung cấp nhưng vẫn phải kê khai lại; quy trình có công nghệ hỗ trợ nhưng thời gian xử lý chưa được rút ngắn.

Điều đó cho thấy công nghệ không tự tạo ra hiệu quả quản trị. Hiệu quả chỉ được hình thành khi công nghệ được vận hành bởi những cán bộ có năng lực, trách nhiệm và tinh thần tận tụy phục vụ Nhân dân.

Kết quả triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại thành phố Đà Nẵng đã tạo cơ sở thực tiễn quan trọng. Theo Cổng thông tin điện tử thành phố, đến tháng 8/2026, thành phố đã hoàn thành 183 trong tổng số 289 nhiệm vụ được giao, đạt 63,3%. Thành phố đồng thời triển khai đánh giá, xếp hạng hằng tháng việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, gắn tiến độ thực hiện với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.[1] Trước đó, tính đến ngày 9/5/2026, Đà Nẵng đạt 96,46 điểm, xếp thứ 6 trong 34 tỉnh, thành phố về chỉ số giải quyết thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp.[2]

Những con số trên thể hiện quyết tâm chuyển mạnh từ ban hành chủ trương sang tổ chức thực hiện, từ đánh giá bằng báo cáo sang đánh giá bằng dữ liệu và kết quả cụ thể. Tuy nhiên, đích đến của chuyển đổi số không chỉ là số lượng nhiệm vụ hoàn thành hay vị trí xếp hạng. Thước đo quan trọng nhất vẫn là thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn, chi phí của người dân được giảm bớt và mức độ hài lòng ngày càng được nâng cao.

Gần dân cả trên không gian thực và không gian số

Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” nhấn mạnh yêu cầu gắn học tập với thực hành, đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.[3]

Vận dụng tinh thần ấy vào chuyển đổi số ở cơ sở, mỗi cán bộ không chỉ học cách sử dụng công nghệ mà phải biến công nghệ thành phương tiện phục vụ Nhân dân. Phong cách gần dân trong điều kiện mới không chỉ được thể hiện qua việc xuống địa bàn, gặp gỡ và lắng nghe người dân trực tiếp, mà còn thể hiện ở khả năng tiếp nhận, phản hồi và xử lý kịp thời ý kiến của người dân trên môi trường số.

Chính quyền gần dân là chính quyền để người dân dễ tìm kiếm thông tin, dễ thực hiện thủ tục, dễ phản ánh khó khăn và dễ theo dõi kết quả giải quyết. Một câu trả lời rõ ràng trên cổng thông tin, một hướng dẫn chính xác qua nền tảng số hay việc chủ động thông báo tiến độ xử lý hồ sơ đều góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền.

Đối với xã Phú Ninh, yêu cầu này càng có ý nghĩa thiết thực trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Địa bàn, quy mô dân số và khối lượng công việc đặt ra yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải nhanh chóng thích ứng với phương thức quản trị mới. Công nghệ cần được sử dụng để rút ngắn khoảng cách địa lý, kết nối thông tin giữa chính quyền với các thôn, trường học, cơ sở sản xuất, kinh doanh và từng người dân.

Trước hết, cần rà soát năng lực số theo từng vị trí việc làm. Cán bộ tiếp nhận hồ sơ cần thành thạo quy trình dịch vụ công trực tuyến; cán bộ phụ trách thông tin, tuyên truyền phải biết biên tập nội dung số, kiểm chứng nguồn tin và tương tác với người dân; cán bộ chuyên môn phải biết khai thác, cập nhật và sử dụng dữ liệu phục vụ tham mưu. Việc bồi dưỡng cần gắn với tình huống thực tế, lấy khả năng giải quyết công việc làm tiêu chí đánh giá, tránh học lý thuyết chung chung.

Hai là, trang bị cho cán bộ kiến thức về trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tổng hợp tài liệu, tra cứu quy định, xây dựng báo cáo và truyền thông chính sách, nhưng cán bộ phải kiểm tra độ chính xác, chịu trách nhiệm về nội dung và tuyệt đối không đưa thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân hoặc tài liệu nội bộ lên những nền tảng không bảo đảm an toàn.

UBND xã Phú Ninh tập huấn kiến thức trí tạo nhân tạo cho cán bộ, công chức và bí thư các chi bộ trên địa bàn

Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác chính trị, tư tưởng phù hợp với tình hình mới.[4] Trong môi trường số, mỗi cán bộ, đảng viên cần có khả năng nhận diện, kiểm chứng thông tin; không chia sẻ nội dung chưa được xác thực; chủ động cung cấp thông tin chính thống và giải thích kịp thời những vấn đề người dân quan tâm. Đây vừa là biểu hiện của năng lực số, vừa là trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên.

Ba là, chuyển đổi số cũng phải bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau. Không phải người dân nào cũng có điện thoại thông minh, đường truyền ổn định hoặc kỹ năng thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Người cao tuổi, người khuyết tật và những người ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ vẫn cần được hướng dẫn trực tiếp. Vì vậy, càng đẩy mạnh số hóa, cán bộ càng phải kiên trì, tận tình và linh hoạt trong hỗ trợ người dân. Công nghệ phải làm cho dịch vụ công dễ tiếp cận hơn, không trở thành một rào cản mới.

Bốn là, phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn viên, thanh niên, giáo viên và những người có kỹ năng công nghệ tại địa phương. Đây là lực lượng có thể hỗ trợ người dân cài đặt, sử dụng các ứng dụng thiết yếu, nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, nhận diện hành vi lừa đảo và bảo vệ thông tin cá nhân. Khi kỹ năng số được phổ biến trong cộng đồng, chuyển đổi số mới trở thành một quá trình có sự tham gia thực chất của Nhân dân.

Nâng cao năng lực số của cán bộ không phải là nhiệm vụ có thể hoàn thành qua một khóa tập huấn. Đó là quá trình học tập thường xuyên, gắn với từng công việc, từng hồ sơ và từng yêu cầu chính đáng của người dân. Mỗi thao tác được rút gọn, mỗi hồ sơ được giải quyết đúng hạn, mỗi kiến nghị được phản hồi kịp thời đều là kết quả cụ thể của chuyển đổi số.

Công nghệ có thể mở rộng không gian hoạt động của chính quyền, nhưng trách nhiệm và tinh thần phục vụ mới quyết định khoảng cách giữa chính quyền với Nhân dân. Khi cán bộ có năng lực số, bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và phương pháp làm việc khoa học, chính quyền không chỉ vận hành hiện đại hơn mà còn gần dân, hiểu dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn.

                                                                                                                    

Chú thích

[1] Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Từ tháng 8/2026 triển khai Bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng hằng tháng việc thực hiện Nghị quyết 57”, tháng 8/2026.

[2] Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, “Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đánh giá kết quả 4 tháng đầu năm”, tháng 5/2026.

[3] Bộ Chính trị, “Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

[4] Ban Chấp hành Trung ương, “Quy định số 19-QĐ/TW ngày 8/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng”.

 

Tác giả: TRẦN NGỌC NHIỀU (HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC III)

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Tài liệu kỳ họp HĐND

Bản đồ hành chính

Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

0000247893

Hôm nay: 620
Hôm qua: 240
Tháng này: 1152
Tháng trước: 16549